You are not connected. Please login or register

Tuyệt Tình Cốc » Văn - Thơ - Tư Liệu - Lịch Sử » Lịch Sử - Tư Liệu Văn Chương » Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam

Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam

Chuyển đến trang : Previous  1, 2

Go down  Thông điệp [Trang 2 trong tổng số 2 trang]

26Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam - Page 2 Empty HOÀNG ĐÌNH BẢO on Wed Mar 18, 2015 9:14 pm

saudong

saudong
Bạn Thân
Bạn Thân

HOÀNG ĐÌNH BẢO
(?- 1786)

Ông quê ở xã Phụng Công, huyện Yên Dũng (Bắc Giang), cháu của Hoàng Ngũ Phúc. Ông chính tên là Hoàng Đăng Bảo, sau đổi thành Tố Lý rồi Đình Bảo. Ông thi đỗ Hương cống, sau thi võ đỗ Tạo sĩ, được chúa Trịnh Doanh gả con gái cho. Năm 1774, quân Trịnh đánh vào Nam, ông theo giúp Hoàng Ngũ Phúc, lập được nhiều công. Khi Hoàng Ngũ Phúc mất, ông được bổ chức quyền phủ sự, cai quản quân bản bộ của chúa. Năm 1777, ông được cử làm trấn thủ Nghệ An, gặp lúc đói kém, đã lập danh sách những người nghèo khổ, giao cho các nhà giàu có, buộc phải chu cấp cho họ. Nhờ đó, ông được nhân dân tin phục. Năm sau, nhờ có công dẹp yên cuộc nổi dậy ở Yên Quảng, ông được đưa về giữ chức trong phủ chúa kiêm quyền trấn thủ Sơn Nam. Quyền thế ngày càng cao, lại liên kết với quý phi của Trịnh Sâm là Đặng Thị Huệ, ông càng được chúa sủng ái. Năm 1782, Trịnh Sâm mất, ông cùng Đặng Thị Huệ đưa Trịnh Cán lên kế vị, nắm hết quyền hành. Cuối năm ấy, Trịnh Khải liên kết với quân Tam phủ tổ chức cuộc đảo chính, lật đổ Trịnh Cán. Trong cuộc loạn, Đình Bảo bị quân sĩ ném gạch đá chết.

27Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam - Page 2 Empty LÝ THIÊN BẢO on Sat Apr 18, 2015 8:39 am

saudong

saudong
Bạn Thân
Bạn Thân

LÝ THIÊN BẢO
(? - 555)

Ông là anh trai của Lý Bí, quê ở Thái Bình (Sơn Tây - Hà Tây), tham gia cuộc khởi nghĩa, giành lại độc lập. Cuối năm 545, quân Lương kéo sang, Lý Bí chống không nổi phải chạy lên phía Gia Ninh (Bạch Hạc - Phú Thọ), Lý Thiên Bảo cùng Lý Phật Tử đem một đạo quân chạy vào Cửu Chân. Quân Trần Bá Tiên (nhà Lương) truy đuổi, ông phải chạy sang vùng của người Di Lão ở giáp Ai Lao. Sau đó, ông đến đóng quân ở động Dã Năng, đầu nguồn sông Đà, đắp thành cố thủ, tự xưng là Đào Lang Vương.

Năm 555, ông mất. Lý Phật Tử lên thay.

28Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam - Page 2 Empty NGUYỄN BẢO on Sat Apr 18, 2015 8:40 am

saudong

saudong
Bạn Thân
Bạn Thân

NGUYỄN BẢO
(1452- ?)

Ông người làng Phương Lạc, huyện Vũ Tiên (nay thuộc huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình), đỗ Tiến sĩ năm 1472, được bổ làm Tả tư giảng ở điện Đông Các, phò giúp Thái tử. Trong đời Hiến Tông, ông được thăng Thượng thư, Đô ngự sử, phụ trách Viện Hàn lâm, được vua quý trọng.

29Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam - Page 2 Empty QUÁCH ĐÌNH BẢO on Sat Apr 18, 2015 8:41 am

saudong

saudong
Bạn Thân
Bạn Thân

QUÁCH ĐÌNH BẢO
(1440- ?)

Nhà văn, nhà chính trị nổi tiếng. Ông sinh năm 1440, quê ở làng Phúc Khê, huyện Thanh Lan (Thái Thụy - Thái Bình), đỗ Thám hoa năm 1463. Ông là một trong 28 hội viên hội Tao Đàn. Năm 1470, ông đi sứ Trung Quốc, sau được ban chức Lại bộ Thượng thư kiêm Đô ngự sử. Năm 1483, Lê Thánh Tông sai ông cùng Thân Nhân Trung và một số người khác biên soạn bộ “Thiên nam dư hạ tập” gồm 100 quyển. Sau đó, ông được thăng Thượng thư bộ Lễ, năm 1485, chuyển sang làm Thượng thư bộ Hình.

30Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam - Page 2 Empty BÁT NÀN CÔNG CHÚA on Sat Apr 18, 2015 8:42 am

saudong

saudong
Bạn Thân
Bạn Thân

BÁT NÀN CÔNG CHÚA
(? - 43)

Nữ tướng giỏi của nghĩa quân Hai Bà Trưng. Theo truyền thuyết, bà có tên là Vũ Thục Nương, con gái một gia đình làm thuốc ở Phương Lâu thuộc Phong Châu (Phú Thọ - Vĩnh Phúc). Năm 16 tuổi, xinh đẹp lại giỏi võ. Cha bị Tô Định giết. Bà cầm đao chống giặc, chạy về đất Tiên La (Hưng Hà - Thái Bình). Bà vừa lao động để sống, vừa tụ họp bè bạn cùng chí hướng, ngày đêm luyện tập chờ ngày nổi dậy chống quân cướp nước.

Mùa xuân năm 40, được tin Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Hát Môn, bà đã dẫn toàn quân về hưởng ứng cuộc khởi nghĩa. Công lao của bà được mọi người ghi nhận. Trưng Vương đã phong cho bà là Bát Nàn công chúa.
Quân Hán do Mã Viện tràn sang đánh nước ta. Bát Nàn công chúa được giao chỉ huy một đạo quân chống giặc. Bà đã cùng quân sĩ chiến đấu anh dũng nhưng không ngăn nổi các cuộc tiến công của giặc. Khi quân của Hai Bà Trưng rút về Cấm Khê, bà rút quân về Tiên La. Trong một trận đánh ác liệt, bà đã hi sinh.

Ghi nhớ công ơn của bà, nhân dân đã lập đền thờ.

31Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam - Page 2 Empty NGUYỄN BẶC on Sat Sep 05, 2015 11:32 am

saudong

saudong
Bạn Thân
Bạn Thân

NGUYỄN BẶC
(924 - 980)
 
Danh tướng của Đinh Bộ Lĩnh. Ông là người cùng quê với Đinh Bộ Lĩnh (có thần tích ghi là người Hạ Hoà - Phú Thọ) và là bạn chí thiết của Bộ Lĩnh trong những năm tháng chăn trâu “cờ lau tập trận”. Lớn lên, ông cùng Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp 12 sứ quân, thường được cử chỉ huy một đạo quân lớn đánh vào sào huyệt các sứ quân. Nhà Đinh thành lập, ông được phong Định quốc công. Năm 979, vua Đinh và Đinh Liễn bị ám hại, ông truy bắt được Đỗ Thích, chém chết. Sau đó, cùng Đinh Điền, Lê Hoàn đưa con nhỏ của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Toàn lên làm vua.

Được ít lâu, nghi ngờ Lê Hoàn (bấy giờ làm Nhiếp chính) có ý muốn cưóp ngôi, ông cùng Đinh Điền, Phạm Hạp dấy quân, tiến công vào kinh thành. Quân của Lê Hoàn nhờ chuẩn bị trước đã đánh bại cuộc tiến công. Ông bị bắt và bị xử tử.

32Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam - Page 2 Empty LƯƠNG ĐẮC BẰNG on Sat Sep 05, 2015 11:34 am

saudong

saudong
Bạn Thân
Bạn Thân

LƯƠNG ĐẮC BẰNG
(1472-?)

Ông quê ở làng Hội Triều, huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá), đỗ Bảng nhãn (1499), làm quan đến Tả thị lang bộ Lại dưới triều Lê Tương Dực. Ông nổi tiếng về bản Kế sách trị bình 14 chước dâng lên vua yêu cầu sửa sang chính sự. Nhà vua khen ngợi nhưng không thi hành. Sau thăng lên Thượng thư bộ Lại kiêm Đông các đại học sĩ, tước Đôn trung bá. Ông xin nghỉ việc lui về ở ẩn. Ông là thân sinh của Lương Hữu Khánh và là ông nội của Lương Khiêm Hanh. Tất cả đều nổi tiếng thần đồng từ bé.

Có tài liệu nói Lương Đắc Bằng tinh thông thuật số, truyền lại cho học trò Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhưng hiện nay, ngoài bản Kế sách trị bình, ông không để lại tác phẩm nào khác.

33Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam - Page 2 Empty NGUYỄN LƯƠNG BẰNG on Sat Sep 05, 2015 11:37 am

saudong

saudong
Bạn Thân
Bạn Thân
NGUYỄN LƯƠNG BẰNG
(1904- 1979)

Ông sinh ngày 2-4-1904 tại Đoàn Lâm (nay là xã Thanh Tùng) huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, trong một gia đình nhà Nho nghèo, có truyền thống yêu nước.

Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam - Page 2 Nlb10

Lớn lên, ông làm công nhân tàu biển. Năm 1925, được gặp Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu (Trung Quốc), ông gia nhập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam), dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc mở tại Quảng Châu, được phái về nước hoạt động trong phong trào công nhân ở Hải Phòng, rồi Sài Gòn.

Năm 1928, được tổ chức cách mạng phái đi công tác nước ngoài, ông gia nhập nhóm cộng sản đầu tiên của người Việt Nam ở Trung Quốc. Từ cuối năm 1930 đến năm 1943, sau nhiều lần bị đế quốc Pháp bắt và hai lần vượt ngục: Hoả Lò (Hà Nội) (1932) và Sơn La (1943), ông trở về tiếp tục công tác cách mạng. Tháng 10 năm 1943, ông được chỉ định làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách công tác tài chính và binh vận. Ông là người đứng đầu Mặt trận Việt Minh thành lập năm 1941 và là Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Năm 1945, ông được cử làm Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đại hội quốc dân họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) bầu ông vào Ủy ban dân tộc giải phóng toàn quốc.

Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, ông giữ nhiều trọng trách của Đảng và Nhà nước: Tổng Giám đốc Ngân hàng Việt Nam (1951), Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khoá II, III, IV, Phó Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1969), Phó Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1976), Đại biểu Quốc hội các khoá II, III IV, V, VI, Đại sứ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Liên Xô.

saudong

saudong
Bạn Thân
Bạn Thân

PHẠM CÔNG BÂN

Danh y thời Trần. Ông quê ở Tứ Minh huyện cẩm Giàng (Hải Dương), giữ chức Thái y lệnh thời Trần Nhân Tông và Trần Anh Tông. Với lương tâm người thầy thuốc, ông dùng tiền của do triều đình ban cấp để dựng nhà nuôi dưỡng những bệnh nhân nghèo, tàn tật, trẻ mồ côi. Những năm khó khăn, ông mua thuốc, thóc gạo chẩn cấp cho dân đói. Khi làm việc, ông luôn tận tụy phục vụ người bệnh, không quản nhơ bẩn hiểm nguy. Có lần, một phụ nữ bị băng huyết, người nhà đến cầu khẩn ông chữa bệnh. Vừa lúc đó, có lệnh vua mời ông vào khám cho một cung nhân bị cảm. Ông đã quyết định tạm hoãn việc vào cung để đến nhà người phụ nữ bị băng huyết khám, chữa. Xong đâu đó, ông mới quay về cung, Trần Anh Tông ca tụng ông là người thầy thuốc chân chính.

saudong

saudong
Bạn Thân
Bạn Thân

NGÔ BỆ

(? - 1360)
Thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa nông dân lớn nhất thời Trần. Ông quê ở Trà Hương (Kim Thành - Hải Dương). Cuối thời Trần, nhân dân cực khổ, nhiều người phải bán mình làm nô tì, những năm 1343 - 1344 lại liên tiếp mất mùa, ông đã tụ họp nông dân phiêu tán ở vùng núi Yên Phụ (Hải Dương), dựng cờ lớn trên đỉnh núi. Ông kêu gọi “Chẩn cứu dân nghèo”, trừng trị các quan lại, địa chủ. Lực lượng nghĩa quân ngày càng đông, kiểm soát cả một vùng đất rộng của huyện Kim Thành và huyện Chí Linh. Nhà Trần đã tập trung quân đàn áp. Nghĩa quân của ông tạm lui vào vùng rừng núi một thời gian rồi lại tiếp tục hoạt động. Mãi đến năm 1360, quân triều đình tấn công dữ dội. Nghĩa quân bị đánh bại, ông bị bắt đưa về kinh hành hình.

saudong

saudong
Bạn Thân
Bạn Thân

LÊ QUANG BÍ

(1506-?)
Ông tự là Thuần Phu, hiệu Hối Trai, con trai của Lê Nại ở làng Mộ Trạch, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương. Năm 1527, ông đỗ Hoàng giáp làm quan dưới triều Mạc, năm 1548, được cử đi sứ nhà Minh, bị bắt giam ở Nam Ninh đến 18 năm, tới năm 1566 mới được tha về. Mạc Mậu Hợp phong Thượng thư tước Tô Xuyên hầu, ví ông với Tô Vũ nhà Hán.

Đương thời có tập thơ Nôm khuyết danh, đề là Tô Công phụng sứ, với dụng ý ca ngợi tiết tháo trung trinh của Lê Quang Bí.

Tác phẩm của ông còn lại một số bài thơ, trong sách Tư hương vận lục.

saudong

saudong
Bạn Thân
Bạn Thân

PHẠM CÔNG BÂN

Danh y thời Trần. Ông quê ở Tứ Minh huyện cẩm Giàng (Hải Duơng), giữ chức Thái y lệnh thời Trần Nhân Tông và Trần Anh Tông. Với luơng tâm người thầy thuốc, ông dùng tiền của do triều đình ban cấp để dựng nhà nuôi dưỡng những bệnh nhân nghèo, tàn tật, trẻ mồ côi. Những năm khó khăn, ông mua thuốc, thóc gạo chẩn cấp cho dân đói. Khi làm việc, ông luôn tận tuy phục vụ người bệnh, không quản nhơ bẩn hiểm nguy. Có lần, một phụ nữ bị băng huyết, người nhà đến cầu khẩn ông chữa bệnh. Vừa lúc đó, có lệnh vua mời ông vào khám cho một cung nhân bị cảm. Ông đã quyết định tạm hoãn việc vào cung để đến nhà người phụ nữ bị băng huyết khám, chữa. Xong đâu đó, ông mới quay về cung, Trần Anh Tông ca tụng ông là người thầy thuốc chân chính.

saudong

saudong
Bạn Thân
Bạn Thân

NGÔ BỆ
(?- 1360)

Thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa nông dân lớn nhất thời Trần. Ông quê ở Trà Hương (Kim Thành - Hải Dương). Cuối thời Trần, nhân dân cực khổ, nhiều người phải bán mình làm nô tì, những năm 1343 - 1344 lại liên tiếp mất mùa, ông đã tụ họp nông dân phiêu tán ở vùng núi Yên Phụ (Hải Dương), dựng cờ lớn trên đỉnh núi. Ông kêu gọi “Chẩn cứu dân nghèo”, trừng trị các quan lại, địa chủ. Lực lượng nghĩa quân ngày càng đông, kiểm soát cả một vùng đất rộng của huyện Kim Thành và huyện Chí Linh. Nhà Trần đã tập trung quân đàn áp. Nghĩa quân của ông tạm lui vào vùng rừng núi một thời gian rồi lại tiếp tục hoạt động. Mãi đến năm 1360, quân triều đình tấn công dữ dội. Nghĩa quân bị đánh bại, ông bị bắt đưa về kinh hành hình.

saudong

saudong
Bạn Thân
Bạn Thân

LÝ BÍ
(hay Lý Bôn -? -548)

Người sáng lập nhà nước Vạn Xuân. Ông là một hào trưởng địa phương, quê ở Thái Bình (Bắc thị xã Sơn Tây - Hà Tây), tự là Liêm Cữ. Theo “Vạn Xuân quốc đế kí”, tiên tổ là người Hán, cuối thời Tây Hán chạy loạn sang Giao Chỉ. Sau 7 đời, được xem là người Việt. Lý Bí là người có tài văn võ lại có chí lớn. Vào thế kỉ VI, Giao Châu thuộc nhà Lương. Thứ sử Giao Châu của nhà Lương là Tiêu Tư, cậy thế thuộc dòng dõi quý tộc, làm nhiều điều tàn ác, vơ vét của cải của nhân dân, khiến mọi người đều căm giận. Ông được cử làm chức Giám quân ở Cửu Đức (Hà Tĩnh), thông cảm với cuộc sống của người dân Việt, bèn bỏ về quê, chiêu mộ hào kiệt, mưu sự khởi nghĩa. Được sự giúp đỡ của người cùng quê là Tinh Thiều, ông liên kết được với nhiều thủ lĩnh như thủ lĩnh Chu Diên là Triệu Túc cùng con là Triệu Quang Phục, thủ lĩnh Thanh Đàm (Hà Nội) là Phạm Tu v.v... Năm 542, cuộc khởi nghĩa bùng nổ. Nghĩa quân kéo về thủ phủ Giao Châu là Long Biên. Thứ sử Tiêu Tư run sợ, bỏ thành chạy về Trung Quốc. Nghĩa quân chiếm Long Biên và lần lượt giải phóng các châu quận khác. Tháng 4 năm đó, vua Lương cử bọn thứ sử Tuần Hầu, Ninh Cự, Lý Trí đem quân sang đàn áp nhưng bị nghĩa quân đánh lui. Tháng giêng năm 543, vua Lương lại sai Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng đem quân sang đánh. Bị thúc giục từ nhiều phía, quân Lương vội vã tiến sang nhưng đến Hợp Phố (vùng giáp biên giới Trung - Việt ở Đông Bắc) thì bị nghĩa quân đánh cho tan tác. Mặt Bắc tạm yên. Tháng 5 năm 543, quân Lâm Ấp đánh lên mặt Nam, Lý Bí đã cử Uy viễn tướng quân cùng Phạm Tu đem quân chống cự. Biên cương phía nam ổn định.

Đầu năm 544, Lý Bí lên ngôi vua, tự xưng là Nam đế, đặt niên hiệu là Thiên Đức, đặt tên nước là Vạn Xuân với ý nghĩa đất nước được độc lập lâu dài. Nhà nước được thành lập, Triệu Túc, Tinh Thiều, Phạm Tu, Lý Phục Man (tức Uy viễn tướng quân), Triệu Quang Phục được phong giữ các chức quan trọng. Ông cũng dựng điện Vạn Thọ làm nơi hội chầu, chùa Khai Quốc (Trấn Quốc - Hà Nội) làm nơi thờ Phật, phong thần cho một số người có công với nước trước đây (trong đó có Bà Triệu).

Mùa hè năm 545, vua Lương lại sai bọn Trần Bá Tiên, Dương Phiêu cầm quân đánh Vạn Xuân. Nhiều trận đánh đã diễn ra. Trước thế giặc mạnh, ông đành bỏ kinh thành chạy lên miền Gia Ninh (Bạch Hạc - Phú Thọ), sau đó, rút quân vào vùng đất của người Tày ở Tân Xương. Sau một thời gian củng cố lại lực lượng, ông đem quân ra đóng ở hồ Điển Triệt (Lập Thạch - Vĩnh Phúc), lực lượng rất hùng hậu. Quân giặc sợ không dám tấn công. Bỗng, một đêm, mưa to gió lớn, nước lũ tràn ngập, quân Trần Bá Tiên nhân đó cho quân đánh vào. Bị tấn công bất ngờ, quân Lý Bí thua. Ông đành rút quân và chạy vào vùng động Khuất Lão (Tam Nông). Bị ốm nặng, ông bèn giao binh quyền lại cho vị tướng trẻ Triệu Quang Phục, ít lâu sau ông mất. Nhân dân thương tiếc đã lập đền thờ ông ở nhiều nơi.

saudong

saudong
Bạn Thân
Bạn Thân
BÙI HUY BÍCH
(1744- 1802)

Tự là Hi Chương, Ảm Chương, hiệu là Tồn Am. Ông người làng Định Công, huyện Thanh Trì (nay là xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội) ; con cháu của Tiến sĩ Bùi Xương Trạch, học trò của Bảng nhãn Lê Quý Đôn. Năm 1769, ông đỗ Hoàng giáp, làm Đốc đồng Nghệ An, rồi thăng lên Hành tham tụng cuối thời Lê Hiển Tông (1740 - 1786). Tây Sơn ra Bắc, họ Trịnh sụp đổ. Lê Chiêu Thống, Quang Trung, Gia Long đều mời ông ra làm quan nhưng ông từ chối, ở ẩn tại quê nhà đến lúc qua đời.

Bùi Huy Bích đã để lại nhiều thơ văn và công trình sưu tập quý giá. Tác phẩm có Bích câu thi tập viết về Thăng Long, Nghệ An thi tập viết về Nghệ An, tản văn có Lữ Trung tạp thuyết. Khảo cứu kinh điển Nho học có Ngũ kinh tiết yếu, Chu lễ tiết yếu, Luận ngữ tiết yếu. Cống hiến quan trọng của ông còn ở hai bộ hợp tuyển thơ văn Hoàng Việt thi tuyển (1788) và Hoàng Việt văn tuyển (1788).

saudong

saudong
Bạn Thân
Bạn Thân

NGUYỄN QUANG BÍCH
(1832 - 1890)

Ông hiệu Ngư Phong, quê ở xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, đỗ Đình nguyên hoàng giáp năm 1869.

Khi thực dân Pháp đánh Bắc Kì lần thứ hai (1882), ông đang giữ chức Tuần phủ tỉnh Hưng Hoá và là người cương quyết chống lại đường lối thoả hiệp của triều đình. Năm 1883, quân Pháp tấn công Hưng Hoá, ông đã anh dũng chỉ huy binh lính giữ thành. Khi thành mất, ông không tuân lệnh bãi binh của triều đình bắt về Huế nhậm chức, rút lên vùng Tây Bắc lập căn cứ chống Pháp lâu dài.

Năm 1885, khi Hàm Nghi xuất bôn kêu gọi nhân dân kháng chiến, phát động phong trào Cần vương, Nguyễn Quang Bích trở thành một trong những người lãnh đạo phong trào kháng chiến ở Bắc Kì, được phong là Lễ bộ Thượng thư, sung Hiệp thống Bắc Kì quân vụ. Nghĩa quân của ông bao gồm người Kinh, người Mường, người Thái... đã biết dựa vào núi rừng hiểm trở để đánh du kích, lập được nhiều chiến công oanh liệt, gây cho kẻ địch nhiều tổn thất nặng nề. Nguyễn Quang Bích đã được vua Hàm Nghi hai lần cử sang Vân Nam cầu viện Trung Quốc. Địch cho bọn tay sai mua chuộc dụ dỗ, ông cương quyết cự tuyệt, thà chết không hàng.

Sang năm 1890, bị đau ốm luôn, nghĩa quân lại gặp nhiều khó khăn về lương thực và vũ khí, ông vẫn không hề thoái chí nản lòng. Người nhà xin đi theo chăm sóc thuốc men, ông không chịu, chỉ dặn lấy ngày thành Hưng Hoá mất làm ngày giỗ. Ông mất tại núi Tôn Sơn (căn cứ của nghĩa quân) thuộc xã Mộ Xuân, huyện Yên Lập.

Nguyễn Quang Bích để lại nhiều thơ văn, tập hợp thành Ngư Phong thi văn tập. Đó là những áng văn chương thấm đượm tinh thần yêu nước, thương dân, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn thơ yêu nước thời cận đại.

Sponsored content


Về Đầu Trang  Thông điệp [Trang 2 trong tổng số 2 trang]

Chuyển đến trang : Previous  1, 2

Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết